Đền thờ Ngô Trí Hoà ở thôn Lý Trai, xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, thờ một người con của huyện Diễn Châu: Hoàng Giáp Ngô Trí Hoà làm nên sự nghiệp ở Thăng Long thế kỷ XVII.
Đền thờ ngoảnh mặt hướng Nam, nằm trong khu vực rộng khoảng 2.000m2 với cảnh quan môi trường mát mẻ, cây phượng, cây đại, cây sanh, và 2 cây thị hàng trăm tuổi, xa xa là con sông Bùng uốn khúc.
Đền thờ Hoàng Giáp Ngô Trí Hòa ở Diễn Kỷ, Diễn Châu
Đền xây dựng năm 1629, kiến trúc chữ tam, tức có 3 toà: Nhà bái đường, trung điện và thượng cung. Bước vào cổng ta bắt gặp 2 cột quyết, trên có 2 con nghê chầu lại. Nhà bái đường có 5 gian, trên nóc có hình lưỡng long triều nguyệt, nghê chầu phượng múa.
Nội thất gian giữa có bức hoành phi sơn son thiếp vàng “Viện hữu vọng” (nhớ nguồn gốc xưa) bằng gỗ tếch. Hai bên bàn thờ là 4 tấm biển bằng gỗ màu đỏ: Nhâm Thìn tiến sỹ, kế thế đại khoa, Nhâm Thìn đình nguyên, Giáp Tuất đình nguyên; có kiệu bát cống để rước sắc.
Cụ Ngô Trí Hoà sinh ngày 21 tháng 11 năm Ất Sửu (1565) tại thôn Lý Trai, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu. Cụ tổ là Ngô Công Định từ Bắc Ninh vào đây lập nghiệp năm 1480. Cụ là con thứ hai của cụ Ngô Trí Tri. Năm 28 tuổi, cụ cùng với cha lúc đó 56 tuổi đi thi, cùng đỗ tiến sỹ khoa Nhâm Thìn (1592).
Khoa đó nhà vua chỉ lấy 3 người: Trịnh Cảnh Thụy người huyện An Định; Ngô Trí Hoà, Ngô Trí Tri người Lý Trai, Diễn Châu. Hôm xướng danh bộ Lễ rước bảng vàng treo ở cửa Thái Học để nêu rõ sự vẻ vang cho sỹ tử.
Lễ xướng danh tiến sỹ tân khoa, khi vào chầu vua Trịnh Cảnh Thụy được gọi trước, ông chỉ đứng lên không vào chầu. Đến lượt Ngô Trí Hoà cũng vậy, Vua hỏi tại sao các khanh không tiến lên? Cảnh Thụy tâu: Thần là học trò Ngô Trí Tri, thầy chưa được xưng danh nên chưa dám tiến lên.
Đến lượt Ngô Trí Hoà, vua hỏi vì sao? Ngô Trí Hoà tâu: Ngô Trí Tri là thầy học và là thân phụ của thần nên không dám vào. Vua khen Cảnh Thụy và Trí Hoà giữ được lễ.
Vua Lê Thế Tông cho là việc xưa nay hiếm, cảm phục tài cao học rộng của hai cha con, nhà Vua đã tặng bức trướng lụa đề mười chữ vàng và sai người mang từ Thăng Long về quê trong dịp vinh quy bái tổ:
Khoa danh thiên hạ hữu
Phụ tử thế gian vô
(Khoa danh thiên hạ thiếu chi
Cha con đồng bảng đồng thì mấy ai).
Nhà Vua giao cho cụ làm án sát tỉnh Sơn Tây, do có công lớn trong việc dập tắt bè đảng cướp bóc chống lại triều đình nên sau đó lại được thăng chức Thượng thư Bộ Hình kiêm làm Ký lục tỉnh Thanh Hóa, rồi Thượng thư Bộ Lại, tước Phú Lộc Hầu. Năm 1606 vua Lê Kính Tông giao cho cụ làm chánh sứ để giao hảo với nhà Minh.
Cụ đã góp phần đắc lực cùng với nhà vua củng cố triều chính và mối quan hệ với nước lân bang láng giềng, giữ yên bờ cõi. Tương truyền khi đi sứ qua Bành Thành (Trung Quốc), là đất của Hạng Vũ, nơi Lưu Bang thất trận, chỉ còn 1.110 quân sỹ, Ngô Trí Hoà đã cảm tác bài thơ Bành Thành hoài cổ:
Dưới thành thuyền đợi sứ bộ đây
Bâng khuâng triều trước nhớ sự này...
Năm xưa chiến địa nay đâu tá?
Chỉ thấy muôn trùng xanh núi mây.
Đi sứ về cụ được giao làm Tế Tửu Quốc Tử Giám. Năm 1606 - 1608, cụ lại được giao trông coi phủ Chúa. Giữa chốn phồn hoa cụ cảm thấy tẻ nhạt khi mà nhân dân đói khổ, bị đè nén và cướp bóc.
Trăn trở với vận nước cụ đã dâng “Khải điều trần” lên vua: Xin sửa đức để cầu mệnh trời giúp, đè nén cường hào, cấm phu phen tạp dịch, bớt xa xỉ, dẹp trộm cướp, sửa sang quân chính, bảo vệ tài sản tính mạng của dân.
Những điều trên được vua chấp nhận và khen ngợi. Năm 1623, năm Vĩnh Tộ - Quý Hợi, cụ nhận lệnh vua đi đánh giặc cướp ở Sơn Tây, sau đó được phong Hiệp mưu tá lý dực vận tán trị công thần thái bảo Xuân quận công.
Trải qua 30 năm trên đường hoa lộ ở Thăng Long, cụ đã có nhiều đóng góp cho đất nước, quê hương, được nhà vua và nhân dân ca ngợi. Giữa lúc trời đất hưng thịnh không may cụ lâm bệnh mất ngày 21 tháng 11 năm 1625, thọ 61 tuổi. Khi cụ mất, trong bài “Hoàng đế dụ tế văn” (Văn tế của nhà vua) có đoạn:
... Tưởng đương mãi hưởng thái bình, sao Ngô tướng ra đi vội bấy?
Tang lễ cử hành trọng thể, nghi lễ sao cho xứng với công
Để thương người khó nhọc công cao
Để phong tặng cho người tước cả
Cho âm hồn cõi âm nức tiếng
Cho u hương ngan ngát mùi hương...
Nhà vua hạ chiếu cho lập đền thờ và bia cho cụ, phong tặng: Quang ý dực bảo trung hưng, Lê triều tiến sỹ, thiếu phó Xuân quận công, Ngô tướng công trung đẳng thần.